50 câu hỏi 60 phút
Mệnh đề nào dưới đây không đúng khi nói về đặc điểm của chế độ bản vị vàng?
Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng
Tiền giấy được tự do chuyển đổi ra vàng với số lượng không hạn chế
Tiền giấy và tiền vàng cùng được lưu thông không hạn chế
Cả 3 phương án trên đều đúng
Vốn cố định là một phạm trù kinh tế phản ánh giá trị của các tài sản cố định sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Theo nguyên lý chung, vốn cố định được hiểu thông qua đặc điểm luân chuyển (luân chuyển dần dần, giá trị chuyển dịch từng phần vào sản phẩm), hình thức tồn tại (tồn tại dưới dạng các tài sản vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị), và thời gian sử dụng (thường trên một năm hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh). Do đó, đáp án chính xác nhất là phương án 4.
Đáp án đúng là: C. Tín dụng trung và dài hạn từ các ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng thương mại Nhà nước.
Nhu cầu đầu tư phát triển và hiện đại hóa doanh nghiệp thường đòi hỏi nguồn vốn lớn và có thời hạn dài. Vì vậy, tín dụng trung và dài hạn của các NHTM là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp:
Đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ.
Mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Xây dựng và cải tạo cơ sở vật chất.
Thực hiện các dự án đầu tư dài hạn.
Đáp án đúng là: B. Tất cả mọi tính toán đều mang tính tương đối.
Thị trường chứng khoán đôi khi bị ví với “sòng bạc” vì giá chứng khoán chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khó dự đoán như cung – cầu, tâm lý nhà đầu tư, thông tin thị trường và biến động kinh tế. Do đó, mọi dự đoán và tính toán đều chỉ mang tính tương đối, không thể đảm bảo chắc chắn kết quả.
A – Sai: Không phải tất cả người tham gia đều giàu lên nhanh chóng.
B – Đúng: Các tính toán/dự đoán trên thị trường chứng khoán có tính tương đối và luôn tồn tại yếu tố rủi ro.
C – Sai: Không nhất thiết phải có rất nhiều tiền mới tham gia được.
D – Sai: Vốn lớn và bản lĩnh không đảm bảo chắc chắn thắng lợi.
Khi lãi suất thị trường tăng, trái phiếu trở nên kém hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư vì các trái phiếu mới phát hành sẽ có lãi suất cao hơn. Do đó, để bán được, giá của các trái phiếu cũ (với lãi suất thấp hơn) phải giảm xuống. Điều này làm cho lợi suất của chúng tương đương với lợi suất của các trái phiếu mới. Do đó, thị giá trái phiếu giảm khi lãi suất tăng và ngược lại.