11 câu hỏi 60 phút
Đơn vị mua TSCĐ theo phương phá trả chậm thuộc diện chịu Thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, khi giao cho bộ phận sử dụng, kế toán ghi:
Nợ TK 211/ Có TK 331
Nợ TK 211; Nợ TK 133(2) / Có TK 331
Nợ TK 211 / Có TK 331; Có TK 333(1); Có TK 242
Nợ TK 211; Nợ TK 133(2); Nợ TK 242/ Có TK 331
Khi phân bổ lãi trả chậm định kỳ, phần lãi trả chậm được tính vào chi phí của các bộ phận liên quan. Tùy thuộc vào loại chi phí (chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp), ta sẽ ghi Nợ các tài khoản chi phí tương ứng (TK 627, 641, 642) và ghi Có TK 242 (chi phí trả trước) để giảm giá trị của khoản chi phí trả trước này.
Để tính giá thành sản phẩm, một trong những bước quan trọng là xác định số lượng sản phẩm dở dang (SPDD) cuối kỳ. Việc xác định số lượng SPDD đầu kỳ và quy đổi SPDD cuối kỳ ra số lượng sản phẩm hoàn thành tương đương là cần thiết để phân bổ chi phí sản xuất cho sản phẩm hoàn thành và sản phẩm dở dang.
Vì vậy, phương án "Tất cả các bước" không đúng vì nó bao gồm cả bước "Xác định số lượng SPDD cuối kỳ", vốn là một bước cần thiết. Các bước còn lại là những bước cần thiết trong quy trình tính giá thành.
Tuy nhiên, câu hỏi yêu cầu tìm bước *không* bao gồm trong trình tự, và vì cả ba bước còn lại đều liên quan, đáp án đúng là bước xác định số lượng SPDD cuối kỳ (vì nó là một bước cần thiết, chứ không phải là bước bị loại trừ).
Phương pháp tính giá thành giản đơn tính giá thành sản phẩm dựa trên tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ và số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Giá trị sản phẩm dở dang (SPDD) đầu kỳ và cuối kỳ ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm hoàn thành, nhưng không ảnh hưởng trực tiếp đến tổng giá thành sản phẩm. Tổng giá thành sản phẩm chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chi phí sản xuất phát sinh và số lượng sản phẩm hoàn thành.