28 câu hỏi 60 phút
Vào cuối đông – đầu xuân khoảng từ tháng 2 đến tháng 4, miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là tại Hà Nội hay xuất hiện hiện tượng nồm ẩm. Nguyên nhân gây ra hiện tượng nồm ẩm là do sự thay đổi khối không khí. Vào cuối mùa đông, khối không khí lạnh, khô do gió mùa Đông Bắc tràn vào chiếm ưu thế ở miền Bắc. Sang đầu xuân, gió chuyển sang gió Đông Nam đưa khối không khí ấm, ẩm từ biển tràn vào. Khi khối khí ẩm, ấm từ biển vào gặp nền nhà, tường… lạnh hơn sẽ tạo thành các giọt nước nhỏ đọng trên bề mặt các bức tường, trần và sàn nhà. Hiện tượng này trong vật lí gọi là hiện tượng
ngưng tụ
thăng hoa
nóng chảy
đông đặc
Hiện tượng nồm ẩm trong vật lí gọi là hiện tượng ngưng tụ.
Đáp án đúng là A.
Hiện tượng nồm ẩm trong vật lí gọi là hiện tượng ngưng tụ.
Đáp án đúng là A.
Nhiệt dung riêng c của vật phụ thuộc vào bản chất của chất tạo nên vật.
Đáp án đúng là D.
Đường sức điện đi ra ở điện tích dương và đi vào ở điện tích âm chứ không khép kín.
Đáp án đúng là D.
Tốc độ truyền sóng: \(v = \frac{{2.\pi }}{{\frac{\pi }{2}}} = 4\) m/s.
Đáp án đúng là A.
Áp dụng phương trình biến đổi đẳng tích:
\(\frac{{{p_1}}}{{{T_1}}} = \frac{{{p_2}}}{{{T_2}}} \Leftrightarrow \frac{{{p_1}}}{{{p_2}}} = \frac{{{T_1}}}{{{T_2}}} \Leftrightarrow \frac{1}{3} = \frac{{27 + 273}}{{{t_2} + 273}} \Rightarrow {t_2} = 627^\circ C\)
Đáp án đúng là C.
Một máy bơm dùng động cơ điện để bơm nước từ giếng sâu bằng một đầu bơm ly tâm. Về nguyên lý hoạt động: khi động cơ quay, cánh quạt trong đầu bơm (cánh bơm) sẽ quay rất nhanh làm nước văng ra ngoài theo hướng ly tâm. Khi nước văng ra ngoài, ở vùng không gian ngay tâm cánh bơm áp suất giảm và tạo ra môi trường chân không. Vùng chân không này sẽ hút nước từ cửa hút một cách liên tục. Giả sử động cơ điện có công suất 1 HP, đầu bơm đặt trên miệng giếng và đầu ống dây cửa hút đặt ngay mặt nước giếng, áp suất khí quyển là 101325 Pa, khối lượng riêng của nước là 1000 kg/m3 và lấy g = 9,8 m/s2.

Động cơ điện quay nhằm đẩy nước từ cánh bơm ra khỏi đầu bơm theo hướng ly tâm
Áp suất đẩy nước giếng vào trong đầu bơm là áp suất không khí ngay cửa xả
Trong điều kiện lý tưởng của bài toán, độ sâu tối đa mà máy bơm có thể hút được nước lên trên miệng giếng xấp xỉ 10,34 m
Để hút được nước ở mức sâu hơn độ sâu tối đa lên miệng giếng cần có một động cơ điện có công suất lớn hơn động cơ ban đầu
Một máy quét kim loại tại sân bay hoạt động bằng cách sử dụng một cuộn dây để tạo ra từ trường biến thiên nhờ dòng điện xoay chiều thông qua mạch điện tử oscillator có hiệu điện thế hiệu dụng từ 12 V đến 24 V. Khi hành khách đi qua cửa kiểm tra, nếu mang theo vật thể kim loại, máy sẽ phát ra tiếng kêu cảnh báo. Giả sử tác động của cơ thể người lên máy quét là không đáng kể
Máy quét kim loại này hoạt động dựa trên hiện tượng tự cảm
Vật thể kim loại tạo ra dòng điện cảm ứng. Dòng điện cảm ứng này tạo ra từ trường cảm ứng và được máy dò thu nhận, phân tích tín hiệu
Dòng điện sinh ra trong vật thể kim loại là dòng điện Foucault
Một máy quét đã được cài đặt cố định các thông số. Nếu vật thể bằng kim lại có tiết diện càng lớn, dòng điện cảm ứng sinh ra lớn hơn và máy phát tiếng báo động to hơn
Một người tham gia cuộc thi thử thách sinh tồn. Để tạo ra lửa, anh đã dùng phương pháp khoan lửa bằng tay. Người ấy dùng một đũa gỗ có bán kính 0,5 cm để khoan và ma sát với một đế là một tấm gỗ nằm ngang. Đũa gỗ được xoay đều nhờ dây cung với tốc độ góc 20 rad/s để tạo ra ma sát ở đầu mũi khoan với đế khoan. Giả sử lực ma sát giữa mũi khoan với đế gỗ có độ lớn không đổi và bằng 15 N và chỉ tác dụng lên chu vi của đũa gỗ với đế bằng gỗ. Toàn bộ công của lực ma sát được chuyển hoá thành nhiệt năng tại vùng tiếp xúc và khối lượng của vùng gỗ tiếp xúc là 2 gam. Biết nhiệt dung riêng của gỗ là 1500 J/kg.K, nhiệt độ ban đầu là 30oC. Để bắt lửa vào gỗ thì nhiệt độ của gỗ đạt ít nhất 200oC
Khi đũa gỗ xoay đều, có sự chuyển hoá từ cơ năng sang nhiệt năng
Công suất do lực ma sát sinh ra tại vị trí tiếp xúc giữa đũa gỗ và tấm gỗ nằm ngang là 3,2 W
Nhiệt lượng cần thiết để đốt cháy 2 g gỗ ở vùng tiếp xúc là 450 J
Thời gian cần thiết để làm cháy 2 g gỗ ở vùng tiếp xúc là 5,67 phút
Một nhà nghiên cứu muốn đánh giá hiệu quả bón phân lân cho cây lúa. Họ bón vào đất phân lân có đánh dấu đồng vị phóng xạ 32P, với độ phóng xạ trong 1 kg đất lúc bón (t = 0) là H0 = 200 Bq. Biết rằng chu kỳ bán rã của 32P là 14,3 ngày và thời gian thí nghiệm kéo dài 12 ngày. Sau 12 ngày, họ đo được độ phóng xạ trong 1 kg cây lúa là H1 = 25 Bq và trong 1 kg đất là H2 = 78 Bq. Giả sử ban đầu trong đất trồng chưa có đồng vị 32P.

Hằng số phóng xạ là \(\lambda= 5,6.10^{-7} \mathrm{~s}^{-1}\)
Bỏ qua sự khuếch tán, độ phóng xạ còn lại trong mỗi kg đất làm mẫu sau 12 ngày là 200 Bq
Tỉ lệ phần trăm lượng phân lân hấp thụ vào cây là 45%
Tỉ lệ phần trăm thất thoát là 69,7%