Xác định khả năng của một khách hàng không trả được nợ là một phần trong quá trình....
Đáp án đúng: a
Xác định khả năng một khách hàng không trả được nợ là một phần quan trọng của quá trình **quản trị tín dụng**. Quản trị tín dụng bao gồm việc đánh giá rủi ro tín dụng (khả năng không trả nợ), thiết lập các chính sách tín dụng, và theo dõi các khoản nợ để đảm bảo thu hồi vốn hiệu quả. Phân tích tín dụng là một bước trong quy trình quản trị tín dụng, nhưng quản trị tín dụng bao gồm cả các hoạt động rộng hơn như chính sách và thu hồi nợ.
Cập nhật 700+ câu trắc nghiệm Tài chính doanh nghiệp dành cho các bạn sinh viên chuyên ngành Tài chính ôn thi đạt kết quả cao.
Câu hỏi liên quan
Câu hỏi yêu cầu xác định lý do không rõ ràng cho hoạt động thuê tài sản.
Lợi ích từ lá chắn thuế có thể được sử dụng: Đây là một lý do hợp lý để thuê tài sản. Thuê cho phép doanh nghiệp ghi nhận chi phí thuê vào chi phí hoạt động, từ đó giảm lợi nhuận chịu thuế.
Bên cho thuê được trang bị tốt để có thể cung cấp sự bảo trì hiệu quả: Đây cũng là một lý do hợp lý. Các công ty cho thuê thường có chuyên môn và quy mô để bảo trì tài sản hiệu quả hơn so với bên thuê.
Việc chuyên môn hóa đã dẫn đến chi phí hành chính và chi phí giao dịch thấp: Đây là một lý do hợp lý. Các công ty cho thuê tập trung vào việc quản lý tài sản, có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô, giảm chi phí.
Thuê tài sản tránh được sự kiểm soát chi tiêu vốn: Đây không phải là một lý do rõ ràng, bởi vì việc thuê tài sản vẫn là một hình thức chi tiêu và có thể cần phải được phê duyệt, đặc biệt là với các hợp đồng thuê dài hạn có giá trị lớn. Việc thuê có thể né tránh một số quy trình phê duyệt chi tiêu vốn truyền thống, nhưng không hoàn toàn loại bỏ sự kiểm soát. Do đó, đây là lý do ít rõ ràng nhất.
Vậy, đáp án chính xác là lựa chọn 4.
Số tiền chiết khấu = 2% * 2.000.000 đồng = 0.02 * 2.000.000 đồng = 40.000 đồng.
Vì không có đáp án nào đúng nên đáp án chính xác là 'Một đáp án khác'.
Nguyên tắc cơ bản trong kinh tế học và quản trị chi phí là doanh nghiệp nên tiếp tục sản xuất thêm đơn vị sản phẩm miễn là doanh thu cận biên (Marginal Revenue - MR) lớn hơn chi phí cận biên (Marginal Cost - MC) của đơn vị sản phẩm đó. Trong một môi trường cạnh tranh hoàn hảo hoặc khi giá bán là cố định trên một khoảng sản lượng nhất định, doanh thu cận biên thường bằng đơn giá bán (P). Chi phí cận biên của việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm thường xấp xỉ bằng chi phí biến đổi đơn vị (vđơn vị), bỏ qua các yếu tố về chi phí cố định đã được phân bổ và các khoản chi phí biến đổi bậc thang.
Vì vậy, nếu Q > Qhv, doanh nghiệp đã bù đắp được toàn bộ chi phí cố định. Mọi đơn vị sản phẩm tăng thêm, miễn là đơn giá bán P lớn hơn chi phí biến đổi đơn vị (vđơn vị), sẽ tạo ra một khoản đóng góp dương vào lợi nhuận. Khoản đóng góp này (P - vđơn vị) được gọi là lãi gộp đơn vị (contribution margin per unit). Khi lãi gộp đơn vị dương, việc tăng sản lượng sẽ làm tăng tổng lợi nhuận của doanh nghiệp.
* Phân tích các phương án:
* Phương án 1: "Doanh nghiệp chỉ nên gia tăng Q khi đơn giá bán P > vđơn vị"
* Đây là điều kiện chính xác. Khi P > vđơn vị, mỗi đơn vị sản phẩm bổ sung tạo ra doanh thu cao hơn chi phí biến đổi để sản xuất nó, do đó làm tăng tổng lợi nhuận khi doanh nghiệp đã vượt qua điểm hòa vốn.
* Phương án 2: "Doanh nghiệp chỉ nên gia tăng Q khi đơn giá bán Pmới \( \ge \) Pcũ"
* Điều kiện này không phản ánh trực tiếp nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận khi gia tăng sản lượng. Doanh nghiệp có thể gia tăng sản lượng ngay cả khi giá bán không đổi hoặc thậm chí giảm nhẹ (trong một số trường hợp nhất định để chiếm thị phần hoặc khi có lợi thế về quy mô), miễn là P vẫn lớn hơn vđơn vị.
* Phương án 3: "Doanh nghiệp chỉ nên gia tăng Q khi đơn giá bán P > vđơn vị + Pđơn vị"
* Điều kiện này tương đương với P > vđơn vị + P, suy ra 0 > vđơn vị. Điều này là vô lý vì chi phí biến đổi đơn vị (vđơn vị) luôn là một giá trị dương.
* Phương án 4: "Tất cả đều đúng"
* Không chính xác vì chỉ có phương án 1 là đúng.
Vậy, điều kiện để doanh nghiệp nên gia tăng sản lượng khi đã có lãi là khi đơn giá bán của sản phẩm vẫn cao hơn chi phí biến đổi để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đó.
Như vậy, nếu đơn giá bán tăng lên, mẫu số của phân số trên sẽ tăng, dẫn đến kết quả là điểm hòa vốn giảm. Các yếu tố khác như biến phí đơn vị tăng sẽ làm tăng điểm hòa vốn, và định phí tăng cũng sẽ làm tăng điểm hòa vốn.
Do đó, đáp án đúng là "đơn giá bán".
Đòn cân định phí (Degree of Operating Leverage - DOL) đo lường mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi doanh thu đến lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT).
Công thức tính DOL là: DOL = % Thay đổi EBIT / %
Thay đổi Doanh thu. DOL cũng có thể được tính bằng: DOL = Q(P-V) / [Q(P-V) - FC] = (Doanh thu - Chi phí biến đổi) / (Doanh thu - Chi phí biến đổi - Chi phí cố định).
Sản lượng hòa vốn QHV là mức sản lượng mà tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí (lợi nhuận bằng 0). Khi sản lượng sản xuất và tiêu thụ Q càng cách xa QHV, tác động của chi phí cố định càng lớn. Điều này có nghĩa là một sự thay đổi nhỏ trong doanh thu sẽ dẫn đến một sự thay đổi lớn hơn trong lợi nhuận, và do đó, độ nghiêng đòn cân định phí càng lớn.
Vì vậy, đáp án đúng là độ nghiêng đòn cân định phí càng lớn.

Bộ Đồ Án Tốt Nghiệp Ngành Trí Tuệ Nhân Tạo Và Học Máy

Bộ 120+ Đồ Án Tốt Nghiệp Ngành Hệ Thống Thông Tin

Bộ Đồ Án Tốt Nghiệp Ngành Mạng Máy Tính Và Truyền Thông

Bộ Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Kiểm Toán

Bộ 370+ Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Kế Toán Doanh Nghiệp

Bộ Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Trị Thương Hiệu
ĐĂNG KÝ GÓI THI VIP
- Truy cập hơn 100K đề thi thử và chính thức các năm
- 2M câu hỏi theo các mức độ: Nhận biết – Thông hiểu – Vận dụng
- Học nhanh với 10K Flashcard Tiếng Anh theo bộ sách và chủ đề
- Đầy đủ: Mầm non – Phổ thông (K12) – Đại học – Người đi làm
- Tải toàn bộ tài liệu trên TaiLieu.VN
- Loại bỏ quảng cáo để tăng khả năng tập trung ôn luyện
- Tặng 15 ngày khi đăng ký gói 3 tháng, 30 ngày với gói 6 tháng và 60 ngày với gói 12 tháng.